Nguồn gốc chữ mesmerize và sức mạnh của sự tự huyễn hoặc

Quyển “Hồi Ức về những ảo tưởng phi thường và sự điên cuồng của đám đông” của Charles Mackay là một quyển sách nổi tiếng trong giới tài chính. Micheal Lewis thậm chí đánh giá nó có giá trị ngang với sách của Adam Smith hay của Keynes. Bernard Baruch bảo là nhờ quyển này mà ông đã bán hết chứng khoán trước kỳ khủng hoảng kinh tế 1929. Quyển sách kể lại những niềm tin điên loạn vào những ảo tưởng đã từng một thời rất phổ biến.

Quyển sách thật sự quyến rũ. Có nhiều bản online miễn phí. Ví dụ như bản ở Econlib. Nội dung của bài này quay quanh chương 7 của quyển sách.

1. Khoáng Từ Giáo.

(“Khoáng từ giáo” là tôi dịch từ chữ “mineral magnetism”, trong tiếng Anh ý là một niềm tin, một chủ nghĩa, dựa trên sức mạnh của nam châm.)

Paracelsus (1493–1541) là một nhân vật đặc sắc trong lịch sử Y học. Ông vừa là chiêm tinh gia, vừa là bác sĩ, nhà giả kim, cùng với nhiều thứ khác. Ông là người đầu tiên nói đến khái niệm tiềm thức.

Paracelsus tin rằng nam châm chính là hòn đá của triết gia, rằng nam châm có sức mạnh thần diệu, có thể dùng để chữa bệnh. Paracelsus du khảo nhiều năm ở Ba Tư, Ả Rập, để tìm núi nam châm nổi tiếng trong truyền thuyết Đông Phương. Khi hành nghề bác sĩ ở Basle (Thụy Sĩ), Paracelsus dùng một cục đá hoặc cục pha lê, mà ông ta bảo là có từ tính, để chữa bệnh động kinh, hoảng loạn, và các đột biến co giật khác. Dần dần có nhiều người học theo cách chữa trị của Paracelsus, và danh tiếng của Paracelsus vang xa.

Một trong những phương pháp của Paracelsus như sau. Paracelsus tin rằng ta có thể truyền bệnh, dùng nam châm, từ bệnh nhân xuống … đất. Có 6 cách làm nhưng ở đây ta chỉ kể một cách. “Lấy nam châm, trộn thấm với xác ướp, và trộn với đất. Gieo vào đất này một vài hạt cây nào đó có tính tương thích với bệnh cần chữa. Trộn thật kỹ, bỏ vào chậu, và tưới cây hàng ngày dùng nước tắm của người bệnh. Từ từ, bệnh sẽ truyền theo cây xuống đất. Mang cây từ chậu trồng xuống một mảnh đất to hơn. Khi cây lên mầm thì hết bệnh.”

Một tín đồ khác của Khoáng Từ Giáo bảo bệnh nhân uống bột nam châm, xong rồi đắp sắt vào vết thương để bột nam châm theo máu hút ra các loại u bướu.

Khoáng từ giáo lan truyền khắp Âu Châu, là nguồn gốc của những phương pháp chữa bệnh như bột cảm thông, và thuốc xoa vũ khí (weapon salve). Những cái tên như Kenelm Digby (người Anh), Valentine Greatrakes (người Ireland), Francisco Bagnone (người Ý) đã đi vào lịch sử Y Học với những phương pháp dựa trên Khoáng Từ Giáo của họ. Một số nhân sĩ nổi tiếng như van Helmont (người Bỉ) hay Balthazar Gracian (người Tây Ban Nha) cũng viết sách và lên tiếng ủng hộ niềm tin vào sức mạnh của Khoáng Từ Diệu Pháp.

2. Thú Từ Giáo.

(“Thú từ giáo” là tôi dịch từ chữ “animal magnetism“, trong tiếng Anh ý là một niềm tin, một chủ nghĩa, dựa trên sức mạnh của từ tính của muôn loài, trong đó có con người.)

Khi khoáng từ giáo phát triển và lan xa hơn, người ta phát hiện ra rằng không chỉ nam châm mới “chữa bệnh” được, mà chỉ cần dùng tay cộng với một số phương pháp nhất định là cũng đạt được cùng kết quả. Thú Từ Giáo ra đời từ đó, và cha đẻ của nó là Franz Mesmer (1734–1815), một bác sĩ người Đức. Mesmer học Y học tại đại học Vienna, nhận bằng năm 1766, và viết luận án về đề tài ảnh hưởng của các hành tinh đến cơ thể con người.

Franz Anton Mesmer (Wikipedia)

Franz Anton Mesmer (Ảnh của Wikipedia)

Mesmer tin rằng có một “chất” (fluid) nào đó có khắp vũ trụ mà dựa trên “chất” này các hành tinh, ngôi sao tác động hút đẩy lẫn nhau, tác động vào quả đất và muôn loài làm cho mọi thứ hoạt động hài hòa với nhau. Ảnh hưởng của chất này lên hệ thần kinh tạo ra hai trạng thái tâm lý gọi là sự căng thẳng (intension) và sự dịu êm (remission). Điều này có thể quan sát thấy ở nhiều chứng bệnh.

Khoảng năm 1772-1773, Mesmer gặp cha (cố) Hell — là giáo sư khoa Thiên Văn của đại học Vienna. Cha Hell đã phát triển một vài cái đĩa thép nhiễm từ có hình dáng đặc biệt, và đã dùng nó chữa bệnh thành công bằng cách xoa lên người. Mesmer thử dùng đĩa và cũng thành công. Từ từ, Mesmer phát triển lý thuyết ra và thấy rằng chỉ cần “từ tính” của con người cũng đủ chữa bệnh. Ví dụ, Mesmer khám phá ra rằng chỉ cần di chuyển bàn tay từ đầu đến chân, không cần đụng đến bệnh nhân, cũng chữa được bệnh. “Thú Từ Giáo” ra đời từ đó.

Với khám phá này, Mesmer viết bài gửi cho các hiệp hội khoa học trên khắp châu Âu. Chỉ có hội khoa học ở Berlin trả lời, nhưng với lời lẽ không nhã nhặn gì cho lắm. Sau một thời gian, Mesmer thấy không làm việc được ở Vienna, đặc biệt là sau lần không chữa được cho Maria Theresia von Paradis khỏi bị mù, tiếng tăm bị tổn hại, Mesmer chuyển địa bàn sang Paris năm 1778. (Nghe nói là Mozart viết bản concerto số 18 cung Si thứ cho Paradis.) Ở Paris, Mesmer tìm được một bác sĩ có tiếng là M. D’Eslon tin tưởng và ủng hộ. Từ đó trở đi, “Thú Từ Giáo” hay “Mesmer giáo” trở thành một hiện tượng thời thượng ở Paris. Mesmer trở nên cực kỳ giàu có, đặc biệt có rất nhiều tín đồ là phụ nữ ở mọi thành phần sang hèn.

Một trong những sinh hoạt và cách chữa bệnh của Mesmer giáo như sau.

Ở trong công sảnh có một cái chậu lớn hình ô van, dài khoảng hơn một mét, và sâu khoảng 25cm. Trong chậu có nhiều chai rượu, được đổ đầy nước nhiễm từ. Sau đó nước được đổ thêm vào chậu để ngập mấy chai rượu. Thỉnh thoảng các mẩu sắt được ném vào để tăng từ tính. Chậu có nắp bằng sắt, đục nhiều lỗ, và được gọi là cái baquet. Có mấy cái cần bằng sắt cắm vào các lỗ để cho bệnh nhân dí vào các vết thương. Bệnh nhân ngồi xung quanh cái baquet, nắm tay nhau và ép đầu gối lại để thêm tác động của từ tính.

Sau đó có các giáo đồ nam, thường là khỏe mạnh và đẹp trai, đi ra nhỏ thêm các chất lỏng vào các bệnh nhân. Xoa bóp nhẹ dọc xương sống và vùng ngực của các quí bà, nhìn thẳng vào mắt các bà để từ hóa họ bằng mắt. Trong toàn bộ quá trình thì phải có im lặng tuyệt đối, ngoại trừ vài tiếng Harmonica và Piano văng vẳng. Từ từ tinh thần của quí bà lên vút cao, từng người từng người một chuyển sang trạng thái điên loạn, co giật. Có người khóc và bứt đầu bứt tai. Người thì cười váng lên trong khi nước mắt chảy ròng ròng. Người khác thi la hét liên hồi cho đến khi họ mê man bất tỉnh.

Khi mà trạng thái hoảng loạn mê sảng đã lên đến đỉnh cao, Mesmer bước vào, mặc đồ lụa và phất gậy phép bằng nam châm, màu trắng. Dùng gậy và dùng ánh mắt, Mesmer từ từ chữa các bệnh nhân khỏi trạng thái điên loạn.

Mesmer trở thành một hiện tượng ở Paris. Chữa được rất nhiều bệnh nhân. Thu thập thêm rất nhiều tín đồ. Từ “mesmerize” (mê hoặc) ra đời trong ngữ cảnh này. Đến mức vua Louis 16 phải ra lệnh thành lập một ủy ban điều tra, năm 1784. (Louis 16 cùng thời với Nguyễn Ánh, là ông vua duy nhất trong lịch sử nước Pháp bị xử chém, do cách mạng Pháp.)

Benjamin Franklin (Image from Wikipedia)

Benjamin Franklin (Image from Wikipedia)

Đây có lẽ là một trong những ủy ban điều tra uy tín nhất trong lịch sử nhân loại, bao gồm các thành viên như Benjamin Franklin (một trong những người sáng lập nước Mỹ, lúc đó là đại sứ của Mỹ ở Pháp), nhà thiên văn Jean Sylvain Bailly, bác sĩ Joseph-Ignace Guillotin, nhà hóa học Antoine Lavoisier, v.v.

Bailly có trách nhiệm viết báo cáo. Trong báo cáo ông ghi lại những cảnh tượng mà ủy ban điều tra chứng kiến:

Rất nhiều bệnh nhân ngồi quanh cái baquet, nhận điều trị từ tính bằng nhiều cách: dùng cái cần sắt cắm vào baquet, dùng các sợi dây cuốn quanh người, cùng liên kết giữa các ngón cái (để truyền từ tính từ các bệnh nhân khác). Trong khi đó tiếng piano hoặc là một âm thanh trầm bổng được chơi, truyền từ tính vào không khí. Các bệnh nhân cũng được nhiễm từ bằng các dùng ngón tay hoặc gậy từ xoa lên mặt, lên đầu, vào vết thương hoặc bộ phận bị bệnh. Mỗi buổi chữa bệnh mất vài tiếng.

Các bệnh nhân với bệnh lý khác nhau phản ứng khác nhau. Có người bình thản. Có người ho, khạc nhổ, và thấy hơi đau, hơi nóng, và toát mồ hôi. Người khác thì từ từ lên cơn hoảng loạn, co giật cực kỳ man dại và đau khổ. Những cơn hoảng loạn này thực sự đáng kinh ngạc về số lượng lẫn về độ căng thẳng. Thứ nhất là một người hoảng loạn thì cũng làm cho người khác bị hoảng loạn. Ủy ban điều tra đã chứng kiến những cơn hoảng loạn mấy giờ đồng hồ liền. Trong con hoảng loạn nước văng tung tóe, hành động bạo lực, đôi khi thấy vệt máu văng ra, chân tay co giật không điều khiển được, cả người cũng co giật, cổ họng co lại, mắt trợn trắng nhờ, la hét choáng váng, nước mắt, khóc, cười vô chừng. Trước hoặc sau cơn hoảng loạn thì người ta rơi vảo trạng thái trầm cảm, đôi khi choáng. Chỉ một thay đổi nhỏ trong âm thanh (như âm lượng piano) cũng có tác dụng lớn. Chơi nhạc nhanh thì kích thích bệnh nhân nhiều.

Không thể tả được cảm giác kinh ngạc, kinh dị khi chứng kiến những cơn điên loạn này. Ai chưa thấy thì không thể tin được là chúng có thể xảy ra. Hầu hết những người bị lên cơn là phụ nữ, rất ít đàn ông.

Ủy ban điều tra mất 5 tháng để làm thí nghiệm. Và cuối cùng họ cũng viết ra một báo cáo.

Bạn đọc có lẽ nên để dành phài phút để nghĩ xem những thí nghiệm kiểu gì nên được tiến hành, nếu bạn nằm trong ủy ban điều tra.

3. Sức mạnh của sự tự huyễn hoặc

Kết luận của ủy ban điều tra gồm 2 ý chính:

  • Quả thực là phương pháp của Mesmer có chữa được một số người bệnh.
  • Nhưng kết quả chữa bệnh là do … người bệnh tự huyễn hoặc mình mà khỏi chứ không phải do có “từ tính” gì sất.

Nếu dùng phương pháp của Mesmer mà không cho bệnh nhân biết thì không có tác dụng gì cả. Nếu dùng baquet giả và các dụng cụ giả, không phải sắt hay nam châm thì vẫn có tác dụng y như khi dùng baquet thật (với cả các triệu chứng cuồng loạn, co giật), miễn là bệnh nhân tin rằng họ đang được chữa bằng Thú Từ Pháp.

Báo cáo này làm hỏng uy tín của Mesmer ở Pháp. Nhưng lúc này Mesmer đã giàu có, quay lại Đức và mất năm 1815.

Tín đồ Thú Từ Giáo vẫn lan ra Anh, Pháp, Đức, với các nhân vật như Marquis de Puysegur (một trong những cha đẻ của phương pháp thôi miên, biến thể từ phương pháp Mesmer), Chevalier de Barbarin, bác sĩ Mainauduc, Holloway và Loutherbourg, v.v. Bọn họ kiếm được rất nhiều tiền và có nhiều người tin theo.

Tractor của Perkins (từ Wikipedia)

Tractor của Perkins (từ Wikipedia)

Đến khoảng 1796, một biến thể của Khoáng Từ Giáo xuất hiện ở Mỹ. Elisha Perkins (1741-1799), một bác sĩ Mỹ, sáng chế ra một dụng cụ chữa bệnh tiếng Anh gọi là cái “Tractor”, gồm hai cái kim to, mỗi cái dài khoảng 8cm. Perkins bảo là chúng làm từ kim loại đặc biệt. Thậm chí Perkins còn đăng ký bản quyền sáng chế có thời hạn 14 năm cho cái “Perkins Tractors” này. Perkins dùng nó để chữa các loại đau đớn, sưng tấy, thấp khớp, các loại đau ở đầu và mặt. Ông ta chữa bệnh bằng cách lấy 2 đầu nhọn của cặp Tractor cà qua lại vào chỗ đau, Perkins bảo là làm thế thì “dòng điện đau” sẽ theo tractor mà ra. Sau đó Perkins “xuất khẩu” nó sang Anh Quốc và Đan Mạch. Thậm chí có 12 bác sĩ của bệnh viện Hoàng Gia Frederick ở Đan Mạch ủng hộ phương pháp của Perkins. Ở Anh Quốc ông viết sách và bán các bộ Tractors, 5 guineas một bộ.

Sau khi Perkins mất (1810), các bác sĩ khác bắt đầu nghi ngờ và làm thí nghiệm. Đến đây chắc các bạn cũng biết thí nghiệm kiểu gì thì nên làm. Bác sĩ John Haygarth (1740–1827) làm các thí nghiệm cho thấy chính sự huyễn hoặc mới chữa được bệnh. Haygarth thử dùng Tractor gỗ (sơn cho giống thật) thì các bệnh nhân cũng khỏi như thường. Thí nghiệm của ông có rất nhiều nhân chứng, nhưng chỉ có các bệnh nhân thì không biết là có người nhìn. Ví dụ: 5 bệnh nhân được chọn từ một bệnh viên ở Bath. Bốn người bị bệnh thấp khớp nặng ở cổ chân, đầu gối, cổ tay, và hông; người thứ 5 thì bị nhiễm bệnh gut vài tháng. Sau khi áp dụng Tractor giả (bằng gỗ), 4 trong 5 người nói là họ bớt đau ngay lập tức. Ba người nói là không những bớt đau, mà còn bớt rất nhiều. Có người nói là đầu gối của hắn đã thấy ấm hơn, và có thể tự đi bộ trong phòng được, mặc dù ngay ngày hôm trước thôi thì bệnh nhân đau đến mức không đi nổi. Ngày hôm sau thì chữa lại với bộ Tractor thật (kim loại) thì báo cáo của bệnh nhân vẫn như với bộ Tractor giả.

Bác sĩ Haygarth ghi lại các khám phá của mình thành sách (có thể đọc online miễn phí):

Haygarth, J., Of the Imagination, as a Cause and as a Cure of Disorders of the Body; Exemplified by Fictitious Tractors, and Epidemical Convulsions (New Edition, with Additional Remarks), Crutwell, (Bath), 1801.

Tạm dịch tựa đề là “Nói về sự tự huyễn hoặc, như là nguyên nhân gây ra và cũng là phương thuốc chữa các rối loạn trong cơ thể; Với ví dụ bằng bộ Tractors giả và chứng co giật lây lan”. Đây là một quyển sách quan trọng trọng lịch sử Y Học, vì có thể xem nó là một trong những tài liệu đầu tiên viết rất kỹ với cả kết quả thực nghiệm cụ thể về hiệu ứng Placebo, tiếng Việt là “hiệu ứng giả dược”.

4. Hiệu ứng Placebo

Ủy ban điều tra của Franklin và Lavoisier (về Thú Từ Pháp ở trên) làm thí nghiệm công khai đầu tiên minh họa hiệu ứng placebo. Những thí nghiệm kể trên chính là những thí nghiệm mà các nhà nghiên cứu Y Học ngày nay gọi là các thí nghiệm có điều khiển Placebo (placebo-controlled experiments). Đại khái,  trong các thí nghiệm có điều khiển placebo, nếu muốn thử hiệu ứng của “từ tính”, chúng ta có thể thử bệnh nhân với các “gậy nhiễm từ” giả hoặc thật, cộng với bệnh nhân biết hoặc không biết rằng các gậy này là giả hay thật. Các thí nghiệm này cho ta biết là các cải tiến về sức khỏe của bệnh nhân là thật hay do tự huyễn hoặc mà ra.

Các thí nghiệm kiểu này thật ra đã được những người Công giáo cấp tiến tiến hành hồi cuối thế kỷ 16 đế chứng minh rằng mấy trò đuổi ma nhập (exorcism) của một bộ phận Công giáo chỉ là do bệnh nhân tự huyễn hoặc (hoặc đóng kịch) mà ra. Xem bài này ở Lancet (2009) với nhiều ví dụ. Franklin và Lavoisier cùng các cộng sự đã đọc một quyển sách của Montaigne, một trong những tác giả duy lý có ảnh hưởng sâu rộng nhất thời Phục Hưng. Quyển sách của Montaign, tên là “Sức mạnh của sự huyễn hoặc”, đã giải thích và cho các ví dụ tương tự như ta đã thấy trong bài viết này. Do đó, Franklin và Lavoisier hiểu rất rõ hiệu ứng placebo.

Hiện nay, hiệu ứng tâm lý placebo đã được Y Học hiện đại nghiên cứu tương đối kỹ. Xem bài này (2010) ở Lancet. Hiệu ứng này (và hiệu ứng nghịch đảo nocebo) hầu như là luôn hiện hữu trong bất kỳ trường hợp điều trị nào: điều trị tâm lý, vật lý, hay thuốc thang. Ví dụ, để thử thuốc mới thì người ta làm một viên thuốc giống hệt bằng … đường. Xem là tác động của thuốc là tâm lý hay sinh/vật lý. Thậm chí, các viên thuốc placebo (bằng đường) này còn có hiệu quả … tốt hơn các viên thuốc phản trầm cảm (anti-depression). Tách biệt hiệu ứng placebo ra khỏi hiệu ứng sinh/vật lý của một phương pháp chữa trị mới là rất khó khăn, cần nhiều thời gian và rất nhiều clinical trials. Thường là các phân tích meta tổng hợp sau một thời gian dài nghiên cứu trên nhiều nghìn bệnh nhân ta mới có thể có một kết luận tương đối khả tín về tác động của một phương pháp điều trị hay thuốc thang mới.

Hiệu ứng placebo cũng đã được thử rất nhiều để thử tác dụng của châm cứu. Kết luận sơ khởi là: (1) chưa có bằng chứng gì cho thấy có sự tồn tại của “huyệt đạo”, (2)  châm cứu giả có tác dụng chẳng kém gì châm cứu thật (kể cả khi không dùng kim châm vào da), tác dụng đa phần là tác dụng tâm lý, bị ảnh hưởng bởi văn hóa và niềm tin, và nhìn chung (3) có vẻ như châm cứu không có tác dụng nào hơn hiệu ứng placebo. Các nghiên cứu này đều thuộc loại phân tích “meta”, nghĩa là phân tích kết quả của vài chục nghiên cứu khác của nhiều nhóm bệnh viện và nhiều nghìn bệnh nhân chọn ngẫu nhiên khác nhau. Tuy vậy, tác dụng tâm lý của châm cứu vẫn là một tác dụng rõ rệt cho một số trường hợp nhất định, và vì thế một số tổ chức y tế như NIH vẫn khuyến khích nghiên cứu tiếp và dùng (1997).

Các nhà nghiên cứu Y Học vẫn tranh cãi về việc dùng hiệu ứng placebo như vậy để “lừa” bệnh nhân thì có hợp đạo đức nghề Y không. Xem bài này ở Lancet (2010). Do chữa trị theo hiệu ứng placebo tùy vào niềm tin và từng cá nhân, nếu có dùng nó thì chỉ nên là chọn lựa cuối cùng.

Tương tự như Mesmer, hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều “nhà cầu nguyện” trị bệnh bằng niềm tin sâu sắc của bệnh nhân, ví dụ như tin vào Thượng Đế. Phương pháp này còn gọi là Faith Healing. Một vài faith healer nổi tiếng đã bị khám phá là lừa đảo, ví dụ như vụ James Randi chỉ ra mánh khóe của Peter Popoff. Xem bài này của James Randi về “John of God”, từ Brazil; và việc ABC-TV đã làm phóng sự không thật thà thế nào. CNN mới gần đây lại có một đoạn về “John of God” mà bác sĩ Sanjay Gupta đã quá nhẹ tay với sự lừa đảo. Xem thêm video dưới đây, phóng sự  cũ của ABC News, về một faith healer nổi tiếng khác đang hành nghề tên là Benny Hinn.

Đến đây, chúng ta không nên ngạc nhiên về sự cuồng loạn, khóc thét của các tín đồ tham dự các buổi “chữa bệnh” như của Benny Hinn.

Và, nếu một lúc nào đó, bạn tham dự một lễ “gọi hồn” mà một ai đó hay kể cả người nhà của mình tự nhiên ngã vật ra, nói lảm nhảm, co giật, thì cũng không nên quá ngạc nhiên. Hiệu ứng Mesmer chỉ có tác dụng với những người tin tuyệt đối. Ta thường hay nghe nói rằng những người “nặng vía” (nghĩa là không tin lắm) thì “gọi hồn” không có tác dụng gì. Cũng đừng ngạc nhiên. Nhỉ.

Chủ đề : Giới thiệu sách, Vượt định kiến and tagged , , , , . Bookmark the permalink. Trackbacks are closed, but you can post a comment.

44 Comments

  1. Posted 18/11/2010 at 10:44 am | Permalink

    Nếu bạn tham gia theo kiểu “vỗ tay trước, hiểu sau” thì đó là vấn đề cá nhân của bạn rồi. Phải tự khắc phục thôi.

    • Posted 18/11/2010 at 10:45 am | Permalink

      Xin lỗi, ý tôi muốn nói bạn Hally.

    • hally
      Posted 18/11/2010 at 1:08 pm | Permalink

      [Nếu bạn tham gia theo kiểu “vỗ tay trước, hiểu sau” thì đó là vấn đề cá nhân của bạn rồi. Phải tự khắc phục thôi.]
      yap! thế ko vỗ tay nữa, nhưng ko hiểu thì làm sao?!!!!

  2. Posted 18/11/2010 at 12:17 pm | Permalink

    Bác hưng cho em mượn cái bài này về treo ở blog của mình đước không ạ, hỏi bác trước. Nếu được thì tốt quá.

  3. Posted 18/11/2010 at 1:15 pm | Permalink

    Thưa các bác,

    Thấy các bác khẩu chiến dữ quá, tôi xin góp vài lời.

    Thứ nhất, xét về tình, trong phạm vi bài này, anh Hưng > anh Whitebear.

    Thứ hai, xét về lý, trong phạm vi bài này, anh Whitebear > anh Hưng.

    Nếu các bác thật sự khách quan, các bác đương nhiên thấy được 2 điều tôi vừa nói.

    Hãy nói về chuyện khác. Các bác có khi nào thắc mắc vì sao trong văn hóa phương Tây người ta hay cãi nhau như mổ bò nhiều như vậy không? Lỗi tại cụ Aristotle nghĩ ra món logic hình thức – formal logic. Món này có những ưu điểm, nhưng cũng nhiều nhược điểm. Nhược điểm lớn nhất của nó là “mỗi mệnh đề chỉ hoặc đúng hoặc sai”. Trước khi ta áp dụng induction, deduction, syllogism v.v. ta phải xác định từng mệnh đề là đúng hay sai cái đã. Trong vô vàn trường hợp, điều này là không thể. Vậy xin bác nào chấp từng câu từng chữ của người khác thì hỉ xả bớt đi ạ! 🙂

    Tóm lại, cá nhân tôi cơ bản là đồng ý với bác Hưng, dân đen nước Vệ, như tôi chẳng hạn, cần phải học cách nhìn duy lý thêm, để cái xã hội này bớt đi những cái trò ma cô mất dạy đội lốt tâm linh.

    Tuy vậy, tôi cũng e là bác Hưng chưa đủ thẩm quyền để nhận xét các vấn đề tâm linh nghiêm túc nói chung. Bác Hưng thử nghĩ, nếu có nhà ngoại cảm XYZ nào đó bảo 1 publication KHMT nào đó của bác là sai bét, đương nhiên bác chỉ mỉm cười mà không chấp gì họ! Cũng vậy, những người tôi luyện tâm linh chân chính cũng chỉ mỉm cười trước nhận xét của bác mà thôi.

  4. Posted 18/11/2010 at 2:29 pm | Permalink

    Tôi thấy tranh luận có nhiều điểm chưa ngã ngũ, hoặc nói theo cách hiểu của tôi thì có một số người cố tình không hiểu những điều đơn giản. Tôi cũng tin chắc không phải ai đọc blog này cũng nghĩ giống bác Kan. Vậy nên cái nhận định thứ hai của bác về > và < chỉ là của cá nhân bác thôi, chưa thể là kết luận chung được. Cái "khách quan" mà bác nói cũng là theo quan điểm cá nhân của bác chứ không chắc là quan điểm chung của những người đã đọc hoặc tham gia comment. Thậm chí tôi cho rằng sự thực ngược lại với những gì bác nói.

    Cá nhân tôi chưa thấy bác Hưng có một phán xét gì quá đáng về tâm linh hay tôn giáo cả. Bác ấy chỉ nói đến các hiện tượng cá biệt trên tinh thần duy lí mà thôi. Nếu những người tôi luyện tâm linh chân chính chỉ cười khi đọc bài này thì chuyện kết thúc rồi. Chúng ta cần gì phải tranh cãi nữa, cứ đường ai nấy đi thôi :D.

    Gửi bạn hally: Nếu vậy thì tức là duyên của bạn chưa tới. Nói theo ngôn ngữ đạo Phật, chẳng nên cố gắng cưỡng cầu làm gì.

    • Posted 18/11/2010 at 10:06 pm | Permalink

      Thưa bác SpringerCV,

      Thứ nhất, tôi thấy việc kéo dài thêm tranh luận là vô ích, đơn giản là đôi bên xuất phát từ những nền tảng khác nhau, mà nói theo kiểu vật lí cho oai là khác initial reference. 🙂 Tôi cũng xin không bình luận thêm về phân tích của bác với ý kiến của tôi, cũng vì lí do tương tự.

      Thứ hai, tôi cũng nghĩ như bác, tôi thấy bác Hưng nhắc đến những hiện tượng đơn lẻ (nhấn mạnh: đơn lẻ) trong bài này cũng như những bài khác thật xác đáng. Tuy vậy, bác và tôi đều hiểu, từ những hiện tượng đơn lẻ mà tổng quát hóa chúng thì không đơn giản. Tôi cũng không biết bác Hưng có ý tổng quát hóa những ý kiến của bác ấy trong những bài gần đây hay ko, nên tôi cũng xin không bình luận gì.

      Xin cảm ơn bác đã trao đổi.

  5. Posted 18/11/2010 at 2:53 pm | Permalink

    Xin nói thêm nhân chuyện bác Kan có nhắc tới giả định rằng có một nhà ngoại cảm XYZ nào đó nói 1 publication KHMT của bác Hưng là sai bét. Tôi cũng xin mạn phép bác Hưng bàn luận chuyện này với bác cho vui. Nói thực là dân KHMT rất cô đơn vì nói chuyện chuyên môn cực khó vì hiếm khi có người cùng chuyên môn để mà trò chuyện. Khó thật chứ không phải như tôn giáo, tâm linh ở VN bây giờ nhà nhà, người người đều nghiên cứu, am hiểu và nhiệt thành bàn luận sôi nổi. Nếu như bác kiếm được một nhà ngoại cảm nào có thể dùng khả năng ngoại cảm (vì chắc họ không hiểu về lĩnh vực KHMT và tư duy logic như bác Hưng rồi) để chỉ ra 1 paper nào của bác Hưng là sai bét thì tôi tin là bác Hưng sẽ mừng lắm. Chuyện này hoàn toàn có thể công bố ở các phương tiện thông tin đại chúng và lĩnh vực nghiên cứu tâm linh sẽ đi lên như diều gặp gió.

    • Posted 18/11/2010 at 10:23 pm | Permalink

      Vâng bác SpringerCV,

      Hẳn bác cũng đồng ý với tôi, không riêng gì lĩnh vực KHMT, mà bất cứ lĩnh vực nào, nghề nghiệp nào, chuyên môn nào, số người thực sự thông hiểu luôn ít hơn nhiều so với số người biết chung chung. Nhân bác nhắc đến tâm linh ở VN, dường như tôi hiểu bác nói “… nhà nhà, người người đều nghiên cứu, am hiểu… ” là trào phúng cho vui chứ sự thật nó không có như vậy! 🙂 Cũng giống như trong khoa học Việt Nam, số người thực sự úy tín trong từng chuyên môn là ít ỏi, thì tôi thấy hiện tượng này không khác trong vấn đề tâm linh.

      Sau cùng, tôi dẫn ra 1 VD về publication của bác Hưng và khả năng tâm linh của 1 người nào đó, chung quy là muốn nhấn mạnh rằng, để đánh giá đầy đủ 1 lĩnh vực nào, ta cần không chỉ tri thức về nó, mà quan trọng hơn hết là trải nghiệm thực của cá nhân. Cố nhiên, tôi không có trải nghiệm gì nhiều về KHMT hay bất cứ khoa học nào, cũng như tâm linh, nên tôi không có ý kiến gì bác ạ! 🙂

  6. Whitebear
    Posted 18/11/2010 at 3:43 pm | Permalink

    Vào blog của GS Ngô Bảo Châu, tôi thấy vô cùng ngạc nhiên và khó hiểu, khi thấy anh SpringerCV, admin của Vietscholar xuất hiện và post ngay đường dẫn “chính xác” đến chính comment có hàm ý đe dọa tấn công một cách côn đồ, chửi bới, dọa giết
    http://thichhoctoan.wordpress.com/2010/10/25/cai-t%C6%B0%E1%BB%A3ng-d%E1%BA%A5t-nung/#comment-5549
    (đường dẫn được gửi đến một cách chính xác đến , và chỉ chênh lệch vài phút đồng hồ về mặt thời gian, mọi người có thể kiểm tra về thời điểm).
    Phải chăng đang có âm mưu nào đó phát tán thông tin nhằm tạo ấn tượng xấu về blog KHMT lên trên các blog của các GS nổi tiếng (vốn đang được báo chí quan tâm) nhằm hạ uy tín của anh N.Q.H.? Tôi xin phép để mọi người tự kết luận.

    Dù rằng tôi bất đồng chính kiến về mặt khoa học với anh Hưng, nhưng tôi vô cùng bất bình với hành động đấy. Chuyện này không còn dừng lại ở tranh luận khoa học nữa mà đã có xu hướng trở thành thù hằn, trả thù, chơi sau lưng vào uy tín cá nhân,.. để cương quyết bảo vệ cục xương trong tủ của mình đến cùng, vì vậy tôi nghĩ rằng anh N.Q.H, tôi và các bạn khác cũng nên dừng lại. Chỉ nên tranh luận để tăng thêm hiểu biết chứ không phải là để thể hiện cái tôi của mình bằng mọi giá, kể cả thủ đoạn.

    Tôi nghĩ rằng anh N.Q.H. không chỉ nên viết về các thuật toán, hay quan điểm của anh về ranh giới-borderline của khoa học mà còn nên bổ sung văn hóa tranh luận cho các bạn trẻ đi sau để những hành động đáng xấu hổ như thế kia không còn lặp lại ở trong giới Academia. Tốt nhất là nên stick trực tiếp một link vào lề của blog KHMT
    Tôi gửi tặng anh và các bạn một số bài viết về văn hóa tranh luận để tham khảo.

    http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/NgamNghi-VietNam/Nguoi_Viet_va_van_hoa_tranh_luan/, Tác giả Nguyễn Hưng Quốc

    Với người Việt, văn hóa tranh luận thể hiện rõ qua kết cục thường thấy: tranh luận biến thành cãi lộn. Người ta luôn cố gắng bác bỏ ý kiến của đối phương, bảo vệ đến cùng quan điểm của bản thân. Hiếm khi thấy người ta thừa nhận cái sai của mình. Hòn bấc ném đi hòn chì ném lại, nặng lời, to tiếng rồi chuyển sang mạt sát lẫn nhau trong sự không kiềm chế. Kết cục là không giải quyết được vấn đề gì trong khi chuốc thêm bực mình thậm chí thù hằn lẫn nhau. Trong thời đại internet ngày nay đã xuất hiện ngày càng nhiều các cuộc tranh luận. Thiết nghĩ việc tìm hiểu thế nào là văn hóa tranh luận là cần thiết nhằm tránh vết xe đổ của vô vàn các cuộc tranh luận đã có, nhưng trước nhất ta cần xác định mục đích của tranh luận là gì?

    http://l0ng3ta.wordpress.com/2007/11/19/vanhoatranhluan/ Tác giả Nguyễn Văn Tuấn.

    Trong cộng đồng người Việt, vấn đề này còn nghiêm trọng hơn. Rất nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận trong cộng đồng đã trở thành những cuộc chửi lộn, mà trong đó người tham gia tha hồ vung vít, ném liệng vốn liếng chữ nghĩa qua lại một cách hỗn độn, mà chẳng cần để ý đến logic hay các nguyên tắc của tranh luận là gì. Hơn nữa, rất dễ dàng nhận thấy rằng trong các cuộc tranh luận đó người ta nhắm vào mục tiêu là bản thân, cá nhân của người tranh luận chứ không nhắm vào quan điểm và lý lẽ của người đó. Một đơn cử, mới đây, những bài viết liên quan đến biên giới Việt – Trung, thay vì bàn luận thẳng vào vấn đề, người ta có khuynh hướng công kích vào cá nhân người viết. Những danh từ, tính từ hết sức vô văn hóa được mang ra dùng cho tác giả.

    Việc tranh luận về đề tài này, tôi mạn phép đề nghị được gác lại ở thì tương lai, cho đến khi có thể gặp mặt trực tiếp để nói chuyện và thảo luận thì sẽ thuận tiện hơn.
    Chúc anh Hưng và gia đình sức khỏe
    Một người rất ngưỡng mộ anh.

    • Posted 18/11/2010 at 8:18 pm | Permalink

      Chào WB,

      Cảm ơn bạn đã ghé thăm blog và thảo luận sôi nổi mấy ngày qua. Chân lý thì nó luôn ở đó, không chạy đi đâu cả. Đúng/sai không trở thành sai/đúng vì tôi viết một vài bài lan man nào đó trên một cái blog vài chục người đọc. Đến tháng sau đa số tất cả những bạn đã từng ghé qua các chủ đề này không còn nhớ NQH là ai, WB là ai. Kể cả bản thân tôi viết blog, nghĩ gì viết nấy, không nhất thiết là tháng sau tôi còn đồng ý với những gì mình vừa viết xong.

      Thiển nghĩ một việc không nên làm là đầu tư quá nhiều tình cảm vào một vấn đề của một người mình không quen, và đến khi nghĩ lại thì hoàn toàn không có ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới. Đầu tư như vậy thật sự không có lợi cho sức khỏe — cái mà khi mất đi ta không còn lấy lại được nữa.

      Bạn có biết bơi không? Có đi bơi hay tập bơi không?

      Hầu như tối nào tôi cũng đi bơi, dù Buffalo giờ này rất lạnh. Bơi xong về ngủ rất ngon, và không nhìn cái blog nhỏ xíu bằng kính hiển vi nữa.

      • Whitebear
        Posted 19/11/2010 at 7:54 pm | Permalink

        Vâng, anh nói cũng đúng, xét cho cùng thì chỉ một thời gian nữa tất cả sẽ quên hết những thảo luận ở đây, Hồng Loan ngộ Thiên Không, sắc cũng sẽ chuyển thành không tất cả sẽ trở thành hư vô, chỉ có chữ Đạo là bất biến. Chân lý không thể đổi từ đúng thành sai hoặc ngược lại.
        Cũng chính vì vậy, một vài hành động phi học thuật/lấy nick chửi bới/đi tung tin ở nào đó của một người nào đó, ngẫm kỹ ra ai cũng hiểu, tôi cũng bỏ qua không cần phải truy cứu vì cũng không làm cho chu kỳ bán rã của Am241 thay đổi, làm cho chân lý từ đúng trở thành sai. Tất cả sẽ chỉ là không.
        Tôi không biết bơi, nhưng anh nói đúng, đi dành tình cảm cho một vài bài viết trong blog/diễn đàn để mà nhức đầu vì bị đe dọa,thì có nhiều sở thích khác lành mạnh hơn. Ví dụ như nghiên cứu tử vi của một số nhà KH nổi tiếng, tướng pháp để chọn vợ tốt không bị li dị, phụ nữ tháng nào bị mất trinh, lịch sử văn hóa,.. cái đó thú vị hơn nhiều.

        • Nkd
          Posted 19/11/2010 at 10:11 pm | Permalink

          Thôi, chị đã bảo đi về đi. Cuối tuần rồi, đi chơi đi cho tinh thần sảng khoái.

      • Thành
        Posted 20/11/2010 at 2:24 pm | Permalink

        Anh Hưng hỏi WB là có biết bơi không cũng có hàm ý lắm đấy.

        Câu chuyện là có một ông lão lái đò ngày xưa đưa anh Hưng qua sông, lúc đó anh Hưng hỏi ông này là ông có biết khoa học máy tính hay định lý PCP là gì không ông lão bảo là không. Vậy là ông đã phí 1/3 cuộc đời, anh Hưng nói. Thế ông có biết tâm lý học, sự tự huyễn hoặc là gì không? Ông này cũng bảo là không biết. Anh Hưng lại nói, như vậy là ông lại lãng phí thêm 1/3 cuộc đời. Ông già mới hỏi lại anh Hưng, thế anh có biết bơi không? Anh Hưng nói không, và ông già bảo đò sắp dắm rồi, vậy là anh phí mất cả cuộc đời. Nhưng cũng rất may mắn là anh Hưng bữa đó thoát nạn và từ đó ngoài việc trau dồi kiến thức khoa học, anh Hưng còn tập bơi rất tích cực.

  7. Posted 18/11/2010 at 4:17 pm | Permalink

    WB bên trên có suy diễn thật là hay, vậy thì giờ hãy thử làm một cái test nho nhỏ. Vào blog KHMT, tìm ở góc phải mục comment mới nhất rồi click để đọc. Ví dụ:
    /2010/11/12/mesmerize/comment-page-2/#comment-195784
    Chính là comment mới nhất của WB vừa rồi. Tôi thì theo dõi mấy topic gần đây từ lâu và thường làm như vậy mỗi khi có bất kỳ trao đổi nào mới. Bênh cạnh đó thichhoctoan cũng là một blog ưa thích của tôi, copy và paste cái link thôi mà cũng sinh ra lắm chuyện hay thật Phải nói cái suy diễn, phán đoán trên thể hiện một khả năng diễn đạt rất “phong phú” và đầy tính văn học của …tiểu thuyết trinh thám.

    Lại xin trích 2 mệnh đề mà Whitebear đã phát biểu:
    Whitebear 1: Kẻ tiểu nhân tranh luận cầu thắng thua, người quân tử tranh luận để cầu chân lí
    Whitebear 2: Chuyện này không còn dừng lại ở tranh luận khoa học nữa mà đã có xu hướng trở thành thù hằn, trả thù, chơi sau lưng vào uy tín cá nhân,.. để cương quyết bảo vệ cục xương trong tủ của mình đến cùng, vì vậy tôi nghĩ rằng anh N.Q.H, tôi và các bạn khác cũng nên dừng lại
    Trong khi kết luận số 2 chỉ dựa vào duy nhất một suy diễn của Whitebear mà thôi.
    Cũng giống như bác Hưng, tôi KHÔNG tham gia tranh luận với các ý kiến của Whitebear. Khác ở chỗ bác Hưng không nói còn tôi thì tuyên bố rõ ràng như vậy.

  8. ngo son
    Posted 18/11/2010 at 6:40 pm | Permalink

    Bạn WB interpret cái incompleteness theorem của Godel sai rồi. Theorem đó nói là hệ hữu hạn các tiên đề ko thể chứng mình được tất cả mọi thứ. Khoa học có mở rộng đến đâu thì sẽ có một objective truth nào đó mà ko thể chứng minh được. Muốn chứng minh nó thì phải add thêm tiên đề. Không disprove được và công nhận đúng là 2 cái hoàn toàn khác nhau.

  9. ngo son
    Posted 18/11/2010 at 7:02 pm | Permalink

    Tôi chẳng hiểu các bác cãi nhau về vấn đề gì. Nhưng đọc cái link http://www.trungtamtuthienvietnam.com/index.php?option=com_content&task=view&id=32&Itemid=71 của WB đã thấy bực mình. Tiền thuế của dân và trí tuệ của các prof bị lãng phí vào mấy cái nghiên cứu nhảm nhí ko đi đến đâu. Sao ko tập trung vào phát triển khoa học kỹ thuật để tăng GDP, nâng cao dân trí. Nhận thức về khoa học của người VN còn thấp lắm.

  10. Lê Hoàng Long
    Posted 20/11/2010 at 12:39 pm | Permalink

    Tôi có tìm đọc một số bài báo khoa học về khí công của Yan Xin theo một số đề xuất trên đây. Tiếc rằng một số bài báo bị đòi phải có tiền mới cho đọc, chẳng hạn “Preservation of immune function in cervical cancer patients during chemoradiation using a novel integrative approach,” hoặc “External Qi of Yan Xin Qigong induces G2/M arrest and apoptosis of androgen-independent prostate cancer cells by inhibiting Akt and NF-κB pathways,” cho nên tôi không thể có kết luận cho bản thân mình về giá trị của các nghiên cứu này. Tuy nhiên, theo phần abstract mà người ta cho đọc miễn phí, kết luận cũng chỉ là khí công của Yan Xin có tác động đến bệnh nhân, chứ không phải là lời khẳng định khí công tồn tại. Ảnh hưởng của khí công hoàn toàn có thể do hiệu ứng Placebo. Dĩ nhiên, tôi phải đọc được chi tiết các bài báo nói trên để có thể hiểu thêm về cách sắp đặt và cơ chế của các thí nghiệm, cũng như cách thu thập dữ liệu của những nhóm nghiên cứu này, từ đó mới có thể có kết luận chuẩn xác. Chẳng hạn, tôi có thể hỏi: “Yan Xin thực hiện tổng cộng bao nhiêu thí nghiệm với bao nhiêu nhóm nghiên cứu? Có phải mọi thí nghiệm đều có kết quả tương tự, hay chỉ có những kết quả có lợi cho Yan Xin và nhóm nghiên cứu mới được viết thành bài báo khoa học? v.v…”

    Tôi có đọc một số bài báo khoa học khác của Yan Xin mà người ta cho đọc miễn phí, chẳng hạn “Certain Physical Manifestation and Effects of External Qi of Yan Xin Life Science Technology,” năm 2002, trong đó danh sách tác giả gồm 10 cái tên Trung Quốc, làm việc ở 10 công ty, bệnh viện, đại học khác nhau, có cả 1 ông ở MIT. Bài báo này bàn về một số kết quả thu thập được trong một số buổi phát khí của Yan Xin. Đại khái người ta đem một vài cái máy đo tia gamma và neutron vào những buổi phát khí này, và thấy có sự khác biệt về số đo trước và sau buổi phát khí. Một số buổi phát khí này được thực hiện ở Trung Quốc, một số ở Mỹ. Khi đọc chi tiết hơn, tôi không thể loại trừ khả năng gian lận trong khi thực hiện các thí nghiệm này. Xin nói lại một lần nữa, tôi không nói là có gian lận, tôi chỉ nói tôi không loại trừ được khả năng Yan Xin và nhóm cộng sự của mình trong các buổi phát khí có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các máy đo. Để loại trừ điều này, việc đơn giản nhất Yan Xin có thể làm là đồng ý để một tổ chức độc lập (chẳng hạn BC Skeptics) sắp xếp, chuẩn bị và tiến hành thí nghiệm. Một số kết quả được trích dẫn từ các bài báo của Yan Xin đăng trên các tạp chí về khí công của Trung Quốc, thậm chí trên proceedings của các hội nghị về khí công của Trung Quốc, mà tính khoa học của các bài báo kiểu này đáng để tôi đặt nghi vấn.
    Bài báo này có 10 tác giả. Tôi không thể biết chính xác đóng góp của từng người vào bài báo này, nhưng “gift author” hoặc “ghost author” là có khả năng. Tôi chắc rằng lúc đầu, người ta cũng đánh giá cao bài báo của anh Thông vì thấy tên bác Giao trên đó. Bài báo của Yan Xin được đăng trên “tạp chí khoa học” Journal of Scientific Exploration, và nhiều người cho rằng đó là bằng chứng khoa học về kết quả. Một tạp chí peer-review có chữ “Khoa học” trong cái tên không có nghĩa đó là một tạp chí khoa học. Hội Creationism cũng có tạp chí peer-review, chẳng hạn Answers Research Journal, nhưng giới khoa học vẫn không coi Creationism là một ngành khoa học. Ngoài ra còn có vấn đề về mức độ ảnh hưởng của tạp chí này trong giới khoa học.

    Tóm lại, các bài báo của Yan Xin mà tôi tìm hiểu có thể được chia làm 2 dạng: các bài báo sinh học về tác động của khí công thì có vẻ như không chứng minh được khí công tồn tại như một loại lực vật lý mới mà chỉ nêu lên được sự ảnh hưởng của việc sử dụng khí công lên bệnh nhân (tôi không biết có loại trừ khả năng có hiệu ứng Placebo hay không); các bài báo vật lý về khí công thì các buổi thí nghiệm (phát khí) được thực hiện trong những điều kiện không thể loại trừ khả năng gian lận. Do đó, tôi vẫn không thể kết luận là khí công có tồn tại.

    • Posted 21/11/2010 at 1:44 am | Permalink

      Thưa anh Long,

      Xin trao đổi với anh mấy ý. Đầu tiên, những góc nhìn skeptical, critical với khí công anh vừa đề cập có nhiều chỗ tôi thấy hợp lí, những chỗ đó xin không được nhắc lại. Tôi chỉ xét đến vài chỗ còn vấn đề.

      Thứ nhất, “… khí công của Yan Xin có tác động đến bệnh nhân, chứ không phải là lời khẳng định khí công tồn tại.” Chỗ này hình như tôi hiểu ý anh là “không phải là lời khẳng định khí công tồn tại” nghĩa là “không biết bản chất của nó là gì” thay vì “nó không hề tồn tại”, đúng không ạ? Tôi nghĩ có lẽ vế đầu là ý anh, chứ nếu là vế sau thì thật vô lí bởi 1 thứ ko hề tồn tại lại gây ra tác động!

      Thứ hai, “…các bài báo sinh học về tác động của khí công thì có vẻ như không chứng minh được khí công tồn tại như một loại lực vật lý mới…” Ở đây nảy sinh 2 vấn đề. Một, nếu khí công chưa thể được chứng minh như là 1 loại lực vật lí mới, nghĩa là tạm thời nó chưa phải là 1 loại lực. Vậy bản chất của nó là cái gì? Trường chăng? Hay không phải trường? Hai, nếu chưa giải thích được khí công bằng vật lí thì như đã nói ở trên, không lẽ nó không tồn tại? Tại sao phải cố gán nó vào 1 trong các khái niệm vật lí đã biết? Có chăng khái niệm “khí” trong khí công thuộc về 1 loại vật lí rất vi tế mà hiện giờ con người chưa biết? Hay thậm chí, không thể xét “khí” vào 1 category vật lí nào đó?

      Thứ ba, nhân anh Hưng & anh Long nhắc tới hiệu ứng Placebo, tôi xin nói thêm mấy lời. Hiệu ứng này tôi cũng thấy rất hay, ngoài chuyện chỉ ra các trò lừa đảo như anh Hưng đã đề cập, thì nó đã cho thấy rất rõ là, tinh thần và thể xác của con người ta gắn bó với nhau rất chặt chẽ. Y học phương Tây cho đến ngày nay, tôi thấy dường như vẫn chưa chú trọng mấy đến tác động của tinh thần lên sức khỏe. Phần lớn các bệnh tật đều được mô tả là nguồn gốc do virus này, bacteria nọ, hóa chất này, dòng điện kia v.v. Còn những ngành chữa bệnh tinh thần, kiểu như psychoanalysis thì hoàn toàn không có 1 hệ thống nào ổn định, các vị Freud hay Jung thích đẻ ra khái niệm “khoa học” nào để giải thích thuyết của các vị cũng được cả. Hệ quả là, con người phát triển bao nhiêu thì số bệnh tật được “tìm ra” cũng tăng lên đáng kể. Nếu từ toán học người ta phát triển thành đại số, hình học, giải tích… rồi lại chia thành, ví dụ, giải tích thực, phức, hàm v.v. thì y học cũng vậy. Từ 1 cuc u ta có u lành, u ác; từ 1 cục u lành biến thành u ác sinh ra ung thư, nào ung thư phổi, vú, da, lưỡi v.v. Có bác nào biết thuyết nào nói từ u ác có thể chuyển ngược lại thành u lành thì cho tôi biết với? Theo cái biết hạn hẹp của tôi cho đến giờ chưa có thuyết nào như vậy cả, và hình như 1 cục u trong người chúng ta nó tuân theo khái niệm entropy trong thermodynamics thì phải! 🙂

      Y học phương Đông, chắc anh đã biết, căn bản khác biệt phương Tây ở chỗ xem tinh thần và thể chất không tách rời nhau, lối chẩn bệnh “văn – thiết – vọng – chẩn” căn bản thể hiện điều đó. Y học phương Tây căn bản xem bệnh là 1 kẻ thù, nên “triết lí chữa bệnh” của y học Tây phương cho đến giờ, phần lớn vẫn là “tìm & diệt”, kiểu như Mỹ đã làm trong chiến tranh VN! Y học phương Đông căn bản xem bệnh là 1 trạng thái mất căn bằng nào đó trong ta, mà người ta hay bảo đại loại “anh này âm quá, em kia dương quá…” và chữa bệnh đơn giản là lấy lại cân bằng.

      Một điều rất dễ thấy là Tây y do chia cơ thể con người ra thành từng mảnh rất nhỏ, còn Đông y thì không, nên Tây y cơ bản là định lượng, còn Đông y cơ bản là định tính. Vậy nên, dùng thống kê trong Tây y thì dễ hơn nhiều, vì dù gì đi nữa phương pháp định lượng trong thống kê vẫn vượt trội hơn nhiều phương pháp định tính của chính nó.

      Cho nên, như đã trình bày sơ lược, hai hệ thống Tây và Đông y có nền tảng cơ bản là khác nhau. Nên việc nhất nhất ghán ghép mọi khái niệm Đông y theo tiêu chuẩn Tây y hay ngược lại, ghán ghép Tây y vào Đông y, đều buồn cười. Còn bác nào muốn tự mình kiểm tra sự tồn tại của “khí công” hay “huyệt đạo”, xin mách nhỏ như sau: các bác khi nào rảnh rỗi thì đi du lịch sang nước Thuyền anh em, tìm tới chùa Thiếu Lâm nhờ 1 võ tăng nào đó vận khí đánh nhẹ vào 1 huyệt “nào đó” cho bác ngất 1 cái chơi, lúc tỉnh dậy bác hẳn tự mình chứng nghiệm được sự tồn tại của “khí công”, của “huyệt đạo”! 🙂

      • Algo
        Posted 21/11/2010 at 8:22 am | Permalink

        Xin trả lời vài câu hỏi của bác Kan:
        1. “Tại sao phải cố gán nó vào 1 trong các khái niệm vật lí đã biết?”
        -> Tại vì rất có khả năng này, vật lý hiện đại mô tả hầu hết các hiện tượng mà con người đã gặp.
        Một người duy lý sẽ đi theo hướng có xác suất thành công lớn hơn.

        2. “không thể xét “khí” vào 1 category vật lí nào đó? ”
        -> Mục đích của Vật lý là mô tả vũ trụ, nên không có đối tượng nào nằm ngoài Vật lý, trừ khi nó không thuộc “vũ trụ”. Vậy “Khí” phải là một phần của Vật lý, nếu nó tồn tại.

        Tiếp theo, xin phân tích vài điểm:
        “…tinh thần và thể xác của con người ta gắn bó với nhau rất chặt chẽ.”
        – Nếu tách riêng phần tinh thần và thể xác ra làm hai, thì chúng gắn bó với nhau rất chặt chẽ. Nãy sinh câu hỏi là vì sao tinh thần và thể xác lại gắn bó với nhau?
        – Nếu xem tinh thần và thể xác là một, là vật chất, thì câu trả lời có thể gọn hơn. Rằng vật chất gắn bó với vật chất theo cách định luật vật lý!

        “…và hình như 1 cục u trong người chúng ta nó tuân theo khái niệm entropy trong thermodynamics thì phải! :)”

        Khái niệm entropy trong nhiệt học là khái niệm thống kê. Tức là trong hệ cũng có phần NHỎ có xu hướng giảm entropy, nhưng xu hướng chung của cả hệ là không giảm. Nên việc u ác thành u lành cũng xảy ra thôi :D, vấn đề là xác suất xảy ra LỚN tới mức nào.

      • Lê Hoàng Long
        Posted 21/11/2010 at 6:48 pm | Permalink

        Thưa anh Kan,

        Để trả lời cho hai ý đầu tiên của anh, tôi xin được làm rõ ý của tôi. Ý tôi là phương pháp trị bênh bằng khí công của Yan Xin có ảnh hưởng đến bệnh nhân, nhưng hoàn toàn có thể là do hiệu ứng Placebo. Việc ảnh hưởng của phương pháp dùng khí công (xin nhấn mạnh: “phương pháp dùng khí công”, không phải “khí công”) không có nghĩa khí công tồn tại. Một người ngày nào cũng cầu xin Thượng Đế cho lấy được vợ đẹp, cuối cùng lấy được vợ đẹp thì không có nghĩa Thượng Đế tồn tại. Một thứ không hề tồn tại vẫn có thể có tác động tích cực. Chẳng hạn tôi yêu một người, cố gắng phấn đấu phát triển sự nghiệp để rước nàng về dinh vì tôi tin vào tình yêu của hai người, cuối cùng mới phát hiện ra nàng không yêu tôi mà yêu người khác 🙂 .
        Tôi nói người ta không chứng minh được khí công là một loại lực vật lý mới là vì có người bảo rằng đó là loại lực thứ 5 gì gì đó, thì tôi cho rằng từ những bài báo nêu trên, tôi không kết luận được như vậy. Hơn nữa, ý tôi không phải nói nếu nó không là lực thì nó phải là một cái gì khác, “trường” chẳng hạn. Tôi chỉ đơn giản kết luận rằng tôi vẫn không có bằng chứng để khẳng định khí công tồn tại. Nó có thật sự tồn tại hay không, tôi phải đợi các nhà Vật lý Toán chứng minh một cách khoa học.

        Tôi không rành về y học Đông Tây nên không dám lạm bàn với anh về ý thứ ba. Nhưng tôi nhận thấy y học phương Đông cũng chú trọng đến chữa trị về thể chất, không khác so với Tây y. Điểm khác biệt là về triết lý và cách chữa bệnh, và đó là điều anh nói về “tìm diệt” hay “lấy lại cân bằng.” Tôi mong được anh chỉ giáo thêm về việc “Đông y xem tinh thần và thể chất không tách rời nhau,” trong khi Tây y thì không như vậy. Tôi cũng xin nói thêm là tôi không hoàn toàn phủ nhận Đông y, vì có một số phương pháp và bài thuốc của Đông y đã được chứng minh một cách khoa học. Nhưng không phải cái gì của Đông y cũng có thể được coi là khoa học. Một người có thể tin vào Đông y hay Tây y, đó là lựa chọn của mỗi người, nhưng đừng gắn “khoa học” vào những gì vốn chưa được chứng minh một cách khoa học.

        Cuối cùng là về chuyện huyệt đạo. Tôi tin rằng trong cơ thể có những điểm nhược, chẳng hạn thái dương. Nếu gặp một người biết cách tấn công vào những chỗ nhược thì mình sẽ rất đau, bất tỉnh, hoặc mất mạng, không cần gì đến cao tăng Thiếu Lâm Tự. Liệu điều đó có chứng minh được khí công có tồn tại hay không? Tôi nghĩ là không.

  11. Whitebear
    Posted 21/11/2010 at 7:57 pm | Permalink

    @Lê Hoàng Long: Bạn có thể nhờ các bạn ở trên này download hộ cho bạn 19 paper tương ứng. Tôi tin rằng các bạn ấy rất vui lòng help bạn. Nếu bạn có điều kiện đọc kỹ từng paper thì sẽ thấy không thể sử dụng hiệu ứng Placebo để giải thích sự thay đổi chu kì phóng xạ của Am241 cũng như tác động lên trên nuclear detector.
    “”””Hơn nữa, ý tôi không phải nói nếu nó không là lực thì nó phải là một cái gì khác, “trường” chẳng hạn. “””
    Lực không phải là trường thì là cái gì? Mong bạn đọc thêm các cuốn sách đại chúng về vật lý, sẽ rất có ích với bạn. Chỉ cần một cuốn dành cho đại chúng kiểu như The elegant universe cũng đủ để bạn nói về vật lý tốt hơn. Hoặc nếu bạn có cơ sở căn bản thì đọc cuốn của Peskin thì sẽ tốt hơn là nghe hời hợt với kiến thức vật lý cấp 3 rồi tranh luận “Khoa Học”.
    Hoặc ít nhất bạn xem cuốn phim hoạt hình này xong thì có lợi cho bạn hơn khi nói về vấn đề này, dù rằng còn xa lắm mới nói được đến cơ sở khoa học. http://video.google.com/videoplay?docid=1736748358304155609#

    -> Tại vì rất có khả năng này, vật lý hiện đại mô tả hầu hết các hiện tượng mà con người đã gặp.
    Một người duy lý sẽ đi theo hướng có xác suất thành công lớn hơn.
    2. “không thể xét “khí” vào 1 category vật lí nào đó? ”
    -> Mục đích của Vật lý là mô tả vũ trụ, nên không có đối tượng nào nằm ngoài Vật lý, trừ khi nó không thuộc “vũ trụ”. Vậy “Khí” phải là một phần của Vật lý, nếu nó tồn tại.

    Người duy lý thực sự và làm NCKH sẽ hiểu được và chấp nhận được cái mới, cái ở bên kia border line của human being’s understanding và sẽ không bao giờ tuyên bố “vật lý hiện tại mô tả hầu hết các hiện tượng con người đã gặp”, “bất cứ cái gì mà ta không hiểu–>wrong”. Càng hiểu biết, người ta càng ngộ ra nhiều hiện tượng mà mình không biết, và lúc đó lại bớt dốt đi một ít.

    Chúc các bạn tranh luận vui vẻ.

    • Algo
      Posted 22/11/2010 at 1:08 am | Permalink

      Bác WB có lẽ chưa hiểu ý của tôi rồi, tôi nói là “mô tả hầu hết các hiện tượng mà con người đã gặp” không hề đề cập tới những cái chưa gặp, cũng như không nói là “mô tả tất cả những điều con người đã gặp”.
      Tiếp đó tôi nói rằng ta nên đi theo hướng giải thích có nhiều khả năng đúng nhất, chứ không hề nói rằng chỉ có hướng đó mới đúng cũng như không có ý “bất cứ cái gì mà ta không hiểu–>wrong”.

      “”””Hơn nữa, ý tôi không phải nói nếu nó không là lực thì nó phải là một cái gì khác, “trường” chẳng hạn. “””
      Bác Kan phải đọc thêm sách Vật Lý thôi, nhưng tôi nghĩ khác bác WB một tí, bác Kan chỉ cần đọc sách cấp 3 là cũng đủ để nói chuyện về Vật Lý trên blog này rồi, chương trình ĐH chỉ là toán học hóa Vật Lý mà thôi, bản chất không gì khác so với Vật Lý cấp 3.

      ” sự thay đổi chu kì phóng xạ của Am241 ”
      Tôi thật sự không tin điều này cho lắm, nếu vụ chu kì bán rã của Am241 thay đổi thật thì công trình này cũng được 1/2 giải Nobel rồi 😀
      Về phân rã hạt nhân mà giải thích bằng hiệu ứng Placebo thì không HAY cho lắm. Có một cách hay hơn:
      – Quá trình phân rã là ngẫu nhiên, tức thời điểm phân rã của một hạt nhân là KHÔNG xác định, nên đại lượng chu kì bán rã chỉ là đại lượng thống kê, không hoàn toàn chính xác. Tất nhiên độ chính xác sẽ tăng lên khi số lượng hạt nhân trong hệ tăng, nhưng ta lại gặp tiếp các vấn đề về Độ Tính Khiết, cũng như việc tính toán gián tiếp chu kì bán rã thông qua hiện tượng cân bằng phóng xạ (không thể tính trực tiếp vì chu kì bán rã của Am241 khoảng 4xx năm, dẫn tới sai lệch giữa các lần đo cũng như giữa các máy đó khác nhau là điều hiển nhiên.

      Tôi chưa đọc tài liệu về tác dụng của Khí lên Am241, nên cũng chỉ là phỏng đoán, mà phỏng đoán có nhiều hướng không chỉ có một hướng.
      Chưa khẳng định được hướng nào là đúng, tốt hơn là không nên đem 1 hướng ra làm nền tảng cho các lập luật tiếp theo.

    • Lê Hoàng Long
      Posted 22/11/2010 at 1:52 am | Permalink

      Bác Whitebear,

      Xin được gọi là bác vì tôi không biết tuổi cũng như giới tính của bác nên tôi không biết xưng hô thế nào cho phải lẽ. Tôi mong bác đọc lại lời bình của tôi, cũng như câu trả lời của tôi với anh Kan để đừng đem một câu ra khỏi ngữ cảnh của nó mà phán xét. Tôi cũng không hề nói hiệu ứng Placebo có thể giải thích mấy cái tác động lên nulear detector. Một lần nữa, mong bác đọc kỹ hơn.

      Trong khi tranh luận, tôi có một số nguyên tắc, mà nguyên tắc số một là luôn tôn trọng người đang tranh luận với mình. Tôi không tranh luận nặc danh, cố gắng tranh luận theo cái tinh thần chủ yếu của đối phương (chữ “đối phương” dùng ở đây theo cái ý tích cực của nó, khổ, tôi phải giải thích rõ ý mình, mong bác thông cảm) chứ không đi bắt bẻ từng câu từng chữ ngoài ngữ cảnh. Tôi cũng không hạ thấp ai, không có định kiến rằng người nào cũng dốt hơn mình, hễ không làm chuyên môn trong một lĩnh vực là không có tư cách nói về lĩnh vực đó. Tôi cũng không tấn công cá nhân mà cố gắng nói về luận điểm của đối phương một cách lịch sự. Càng lớn (tức là càng thêm tuổi), càng bớt dại đi, tôi càng thấy trong cuộc đời này mình thật sự không là cái gì hết, nhưng ít nhất, tôi cũng nhận ra rằng con người ta đáng quý là ở chỗ đối xử với nhau thế nào. Bởi vậy, càng về sau này tôi càng coi nặng nguyên tắc tôn trọng đối phương. Không phải lúc nào cũng nhún nhường, nhưng xuất phát điểm của tôi luôn là sự tôn trọng. Tiếc rằng một số nguyên tắc và văn hóa tranh luận của bác và của tôi khác biệt nhau quá, nên tôi mong bác cho tôi xin khiếu không hầu chuyện bác.

      Nói cho cùng, tôi còn nhiều việc khác để quan tâm hơn, chẳng hạn làm sao ru con ngủ cho nhanh để mình cũng còn được … ngủ, hoặc làm sao thay tã cho con một cách “khoa học” nhất. Thôi chúc bác mạnh giỏi, tôi đi tập để bơi được 25 mét mà chỉ cần 13-15 sải đây 🙂 !

  12. Whitebear
    Posted 22/11/2010 at 3:39 am | Permalink

    Một số kết quả được trích dẫn từ các bài báo của Yan Xin đăng trên các tạp chí về khí công của Trung Quốc, thậm chí trên proceedings của các hội nghị về khí công của Trung Quốc, mà tính khoa học của các bài báo kiểu này đáng để tôi đặt nghi vấn.

    Hiển nhiên là không có gì lạ, vì đây là kết quả nghiên cứu về khí công để break cái border giữa các area, thì phải trích dẫn kết quả ở bên khí công, chả nhẽ đi trích dẫn kết quả của bên CS? Bác nói rất buồn cười.

    Nói thẳng với bác Long: định nghĩa của tôi về sự tôn trọng tranh tranh luận khác xa với bác. Tôi sẽ không bao giờ sử dụng kiến thức vật lý cấp 3 của mình để đi phản biện first class research ở borderline, đọc không hiểu vì không có đủ kiến thức thì gán tất cả cho Placebo, sau đó thì phỉ báng kết quả đăng trên top Journal ở top Univ là “tác giả ma”, tiếp theo là đặt câu hỏi rất thiếu tôn trọng đồng nghiệp “gian lận thí nghiệm” khi hoàn toàn không (chưa) đọc cụ thể các paper này. Tôi cho rằng bác không hiểu được sự xúc phạm đối với người làm NCKH khi bị bác kết tội một cách nặng nề như vậy không dựa trên bất cứ một bằng chứng nào?

    Tôi nghe bác Algo nói về chu kỳ bán rã, đành trả lời rằng vài cuốn sách về vật lý hạt cơ bản hoàn toàn có thể làm sáng tỏ khúc mắc của bác. Mong bác đọc kỹ lai paper đó một lần nữa.

    Tôi rất ngạc nhiên tại sao ở bên CS lại có nhiều người có suy nghĩ rất tức cười “kiến thức VL đại học chỉ là toán học hóa của kiến thức VL cấp 3”, để rồi sau đó tự tin mình hiểu biết về vật lý để đi tuyên bố linh tinh như vậy. Mô hình sigma siêu đối xứng mà tôi nói ở đây, đối ngẫu giữa chúng thì tương đương hàm tử với chương trình Langland hình học (NBC chứng minh một kết quả rất tốt ở đây), tức là tương đương nhau về độ borderline, và chưa bao giờ là kiến thức đại học/Msc về vật lý cả. Nhưng mang ra đây thì được các chuyên gia CS kết luận một cách rất thú vị, rồi bảo rằng, chỉ cần kiến thức VL cấp 3 là thừa đủ để thảo luận các top research về đề tài này.

    Tôi không biết nói gì, speakless, đành lịch sự nhắc khéo hầu hết mọi người ở đây là đọc cuốn của Peskin, graduate course về quantum fields theory của UC Berkeley để có kiến thức cơ bản trước khi đi phán về cơ sở vật lý và đi nói người ta là “lừa đảo, gian dối” dù chưa đọc gì hết, nhưng hình như nhắc khéo như vậy là việc xa xỉ với các bác.

    Vì vậy, nếu bác Long cương quyết không chịu thay đổi phương pháp luận NCKH, không chịu đọc kiến thức cơ bản mà cứ thích Bùi Minh Trí phản biện Einstein rồi đi kết tội linh tinh, tôi thiết nghĩ đúng là bác nên đi bơi thì tốt hơn. Đó là một ý kiến không tồi.

    • luong
      Posted 22/11/2010 at 4:25 am | Permalink

      Không biết anh WB có thân chứng về khí chưa? Theo tôi kinh nghiệm khi khí huyết đều hòa con người điềm tịnh lắm. Chuyện khó tin người ta đa nghi cũng là việc bình thường. Anh nhớ chuyện cold fusion năm 1989 không? cũng là respectable scientists đó, cũng máy móc đo tùm lum đó. Nhưng kết quã khi khám nghiệm lại thì không được. Chuyện càn khó tin càn nên được đặc nhiều câu hỏi.

      • Posted 22/11/2010 at 1:09 pm | Permalink

        Ngoài vu cold fusion, thì trong thập kỉ vừa qua 2 vụ đình đám nhất là

        Vụ Schon (2002) với tác phẩm bịp bợm trên các chất bán dẫn đơn phân tử. Tác phẩm đã từng được đăng trên Nature, Science, Physic Review.
        http://en.wikipedia.org/wiki/Sch%C3%B6n_scandal

        Vụ Hwan Woo-suk (2006) với việc thêu dệt các kết quả của một loạt thí nghiệm tế bào gốc và đăng tải trên nhiều tạp chí trong đó đó có Nature & Science.
        http://en.wikipedia.org/wiki/Hwang_Woo-suk

        Chung qui vẫn chỉ là 1 câu hỏi: Kết quả thí nghiệm có thể được lặp lại bởi những nhóm nghiên cứu khác nhau hay ko?

        • Whitebear
          Posted 22/11/2010 at 3:38 pm | Permalink

          Công trình nghiên cứu được thực hiện hơn 10 năm liên tục, tại nhiều trung tâm nghiên cứu hàng đầu. Vậy có thể có câu trả lời về “tính lặp lại được” hay chưa, tôi nghĩ cộng đồng khoa học đã biết.
          Những Journal kia không phải là trẻ con để không biết lý lẽ cơ bản đấy.

        • Minh
          Posted 22/11/2010 at 4:10 pm | Permalink

          Mấy hôm không vào, các bác vưỡn còn ở đây à. Bác WB chỉ cho em website của mấy “trung tâm nghiên cứu hàng đầu” đã nghiên cứu Qi chục năm qua với. Em tìm chẳng thấy đâu. Vào website chú MIT kô thấy paper trên homepage. Công trình breakthrough đáng giá 1/2 cái Nobel mà không để trên website của “trung tâm nghiên cứu hàng đầu” ạ?

          Bác WB cứ nhai lại cái “chu kỳ bán rã” mãi. Bác WB giả nhời bác Algo kìa. Cái thí nghiệm “chu kỳ bán rã” đã được “lặp đi lặp lại” chưa? Lặp bởi ai? Có Gíao sư nào nổi tiếng là co-author không? Hay lại mấy chú khựa thí nghiệm với nhau?

          Các bác tập trung vào một thí nghiệm mà nói. Đừng nhập nhằng thí nghiệm này sang thí nghiệm kia.

        • Whitebear
          Posted 22/11/2010 at 7:24 pm | Permalink

          @Minh:Mọi thắc mắc bạn có thể gọi điện thẳng cho tạp chí chuyên ngành tương ứng. Tôi không có nghĩa vụ giải thích gì thêm.

        • Minh
          Posted 22/11/2010 at 8:57 pm | Permalink

          @WB,

          Cảm ơn bác. Vậy em kết luận thí nghiệm “chu kỳ bán rã” chưa được kiểm chứng độc lập. Bác đừng rêu rao “Công trình nghiên cứu được thực hiện hơn 10 năm liên tục, tại nhiều trung tâm nghiên cứu hàng đầu.” nữa nhé.

        • Posted 22/11/2010 at 11:03 pm | Permalink

          Tùy bác thôi. Bác cứ việc kết luận và cứ giữ vững niềm tin của mình, tôi không có hứng biện giải hộ làm gì. Tôi chán nói với mấy ông “kiến thức VL đại học chỉ là toán học hóa của kiến thức vật lý cấp 3, cho nên chỉ cần học hết cấp 3 là có thể thoải mái phản biện Einstein”. Đánh gia trong giới chuyên môn thì họ tin vào paper được kiểm định bởi top journal hơn là việc mấy ông CS phán linh tinh trà dư tửu hậu. Nói nhiều nữa làm gì, bác nhỉ.

          Có điều bác nên làm mọi thứ một cách chuyên nghiệp, gửi một loạt tố cáo hơn chục tạp chí chuyên ngành/viện NC/ĐH là công bố bậy bạ để ăn tiền NSF. Tôi tin rằng cái này còn nổi tiếng hơn cả giải Nobel đấy bác ạ, nếu niềm tin hoang dại của bác vào sự bất diệt và vĩnh cửu của cơ sở vật lý hiện nay dựa trên kiến thức vật lý cấp 3 là hợp lý.

          Giải Nobel thì a dime a dozen, trường tôi trung bình năm nào chả có một cái, nhưng sự kiện hơn 19 paper liên quan để cả chục tạp chí hàng đầu/ĐH hàng đầu/Trung tâm nghiên cứu hàng đầu mà liên quan thế này thì còn shock hơn Nobel cả chục lần. Khác gì tạp chí Nature công khai đi đăng tin bậy bạ, tôi tin rằng như vậy.

          Bác gửi email tố cáo đi nhé. Vì sự trong sáng trong giới học thuật. Chứ bác nghiến răng nghiến lợi dìm hàng đồng nghiệp để làm gì?

          Chúc bác thành công.

        • Algo
          Posted 22/11/2010 at 11:18 pm | Permalink

          Kiến thức rằng Chu kì phân rã hạt nhân không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài được dạy trong chương trình cấp 3 không biết đã có bao nhiêu cuộc kiểm chứng rồi, có lẽ tất cả “trường cấp 3” trên thế giới đều dạy kiến thức này.

          Việc một công trình xác định được sự thay đổi của chu kì phân rã hạt nhân thì cũng phải đạt cả CHỤC giải Nobel đấy chứ!

  13. Posted 22/11/2010 at 4:41 am | Permalink

    Thưa anh Long,

    Khi tôi viết “1 thứ không tồn tại lại gây ra tác động”, tôi đã nghĩ có thể anh sẽ “bắt giò” tôi chỗ này! Thật thú vị, anh Long ạ! 🙂 Vậy tôi xin trao đổi thêm với anh mấy điều như sau:

    Có vẻ như quan điểm của anh, anh Hưng và vài người ở đây là “chữa bệnh bằng khí công là 1 dạng placebo”. Tôi không thêm chữ “có thể” vô đây vì nếu như vậy tôi cũng nói được “chữa bệnh bằng khí công CÓ THỂ KHÔNG là placebo”! Cả hai phát biểu đều vô thưởng vô phạt như nhau! Có mấy điều cần làm rõ thêm:

    Một là, loại ra những loại chữa bệnh lừa đảo và những loại bệnh do tự huyễn hoặc vì 2 cái này anh Hưng đã đề cập xác đáng. Nói về chuyện “tự huyễn hoặc”, tôi có quen một cụ bà, cụ có tật là lúc nào cũng nghĩ mình bệnh và rất hay bắt con cháu đưa đi chữa bệnh. Con cháu dẫn đến bác sĩ, bác sĩ khám và bảo cụ không có bệnh gì, bà cụ bảo “Bác sĩ gì lạ vậy, ai mà không có bệnh!” 

    Hai là, khi đã loại ra 2 trường hợp trên, hãy trở về với khí công trong Đông y. Tôi không biết anh nghĩ thế nào về 2 câu hỏi sau:

    1) Tiền nhân đưa ra môn khí công, 1 phần trong Đông y, là để lừa đảo người khác phải không?

    2) Những người bệnh tìm đến liệu pháp khí công, 100 % đều không có cái bệnh mà họ đang “tự huyễn hoặc” phải không?

    Nếu anh trả lời “Đúng” cho cả 2 câu hỏi này, thì tôi nghĩ là chúng ta khó lòng trao đổi thêm.

    Nếu anh trả lời “Không” cho cả 2 câu hỏi này, thì tôi xin nói tiếp như sau. Nếu anh đã xác định khí công là placebo, anh cần lưu tâm chỗ này:
    (trích Wiki: http://en.wikipedia.org/wiki/Placebo#Who_is_affected )

    Who is affected
    Placebos do not work upon everyone.[105][106] Henry K. Beecher, in a paper in 1955[107] suggested placebo effects occurred in about 35% of people. However, the response rate is wide, ranging from 0% up to nearly everyone. In a dental postoperative pain model, placebo analgesia occurred in 39%.[106] In research upon ischemic arm pain, placebo analgesia was found in 27%.[105] The placebo analgesia rate for cutaneous healing of left hand skin was 56%.[108]
    Though not everyone responds to a placebo, neither does everyone respond to an active drug. The percentage of patients who reported relief following placebo (39%) is similar to the percentage following 4 mg (36%) and 6 mg (50%) of hidden morphine.[109]

    Nghĩa là placebo không có tác dụng cho tất cả mọi người, hay cụ thể hơn, qua làm placebo khí công (giả khí công) một số người vẫn thấy sức khỏe không khá hơn. Những người mà placebo khí công không có tác dụng sẽ được điều trị bằng khí công “thật” (hiểu theo nghĩa không có sắp đặt placebo) gồm làm 2 loại:

    Loại 1: không khỏi bệnh sau khi được điều trị bằng khí công thật.

    Loại 2: đỡ bệnh, hoặc khỏi bệnh sau khi được điều trị bằng khí công thật.

    Với loại 1, thật dễ hiểu, vì không có bất kì liệu pháp nào, Đông hay Tây y, chữa được bá bệnh. Và thêm nữa, xét trong từng loại bệnh cụ thể, khả năng lành bệnh của mỗi người, dù điều trị theo Tây hay Đông y, là khác nhau vì rất đơn giản, khả năng lành bệnh còn phụ thuộc vào chính người bệnh chứ không chỉ phụ thuộc có mỗi phương pháp điều trị.

    Với loại 2, sau khi đã loại đi những khả năng lừa đảo, huyễn hoặc, placebo, người bệnh khỏi bệnh nhờ điều trị bằng khí công. Vậy thì ta giải thích thế nào? Anh Long có thể trả lời giúp tôi không?

    Bàn về tương quan Tây y – Đông y, anh Long có thể biết rằng Đông y có vài nền tảng rất căn bản là, âm dương, ngũ hành, khí, kinh lạc, huyệt đạo vốn không giống như bất kì hệ thống vật lí nào đã biết. Lấy khái niệm âm – dương làm ví dụ. Khái niệm âm dương trong vật lí, tạm gọi là 2 cực, thì thuần nhất và không thể chuyển hóa nhau.

    Thuần nhất là thế này: Ví như 1 hạt lepton như electron sẽ có chính xác 1 negative charge, còn positron là 1 posotive charge. Sẽ rất buồn cười nếu nói electron có 9/10 negative charge và 1/10 positive charge! Chưa kể, electron hiểu theo vật lí thì có bản chất xác suất nhưng mà không hiểu sao nó lại có chính xác 1 negative charge?

    Không thể chuyển hóa nhau là thế này: ví như với 1 electron, không có cách gì để chính nó (nhấn mạnh: chính nó!) chuyển hóa thành 1 positron cả.

    Khái niệm âm – dương trong triết lí Đông phương, cụ thể ở đây ta đang nói về Đông y, thì có thể nói thế này: hai cực là không thuần nhất (trong âm có dương, trong dương có âm) và có thể chuyển hóa nhau (dương chuyển hóa thành âm, âm chuyển hóa thành dương, lại tiếp tục dương chuyển hóa thành âm v.v.) Lấy ví dụ phương Đông gọi nam giới là dương, nữ là âm nhưng không có nghĩa là nam giới 100% dương mà có nghĩa là dương > âm. Chẳng hạn tỉ lệ dương – âm trong 1 thằng đàn ông, có thể dao động đại khái (tôi sắp định lượng chút xíu cho dễ hình dung, mong anh Long không bắt bẻ! 🙂 ) 90 – 10, 80 – 20, 70 – 30 v.v. Và vì thế không khó hình dung những trạng thái tính cách khác nhau của mấy tay đàn ông, từ rất vũ lực hung hãn, đến nam tính, đến bình thường, đến hơi yếu đuối nữ tính, đến 1 tinh thần hoàn toàn là nữ trong 1 cơ thể nam giới.

    Anh Long có thể thấy ngay, khái niệm âm – dương trong Đông y cơ bản là định tính, nên khi đưa qualitative methods vào các liệu pháp khí công, châm cứu, bấm huyệt v.v. thì rất khó khăn. Nói đơn giản, “tình yêu” là 1 khái niệm cơ bản là định tính. Giả như Kan tôi tỏ tình với 1 em “Anh yêu em!” mà cô gái bảo “Khổ! Cái em cần biết là anh yêu em bao nhiêu phần trăm?” thì tôi phải trả lời thế nào cho nó có empirical based evidence? 🙂

    Bàn về Đông y và Tây y, tôi cho rằng mỗi liệu pháp đều có ưu và nhược của nó, đều hiệu quả hay không hiệu quả trong những hoàn cảnh cụ thể. Hiện thì Đông y đã tiếp thu nhiều khái niệm và phương pháp của Tây y trong điều trị nhưng không vì thế mà hệ thống cơ sở nền tảng của Đông y bị thay đổi hay bác bỏ, điều này cho thấy những người làm Đông y chân chính rất duy lí, rất biết phương pháp của mình có những ưu và nhược gì để bổ sung, hoàn thiện. Ngược lại, so với ngày xưa, Tây y đã tiến 1 bước dài từ chỗ gán nhãn “lang băm” cho tất cả các liệu pháp khác biệt tiến dần đến những “alternative medicine”, cũng là thể hiện tinh thần duy lí.

    Cá nhân tôi chưa bao giờ, và không bao giờ, đề nghị “truy tặng” Đông y, hay cụ thể ở đây là khí công, như là 1 khoa học, vì tôi thấy 2 bên có những nền tảng khác biệt. Nói 1 chút về anh Whitebear, tôi thấy tuy cách anh ấy nói chuyện có vẻ aggressive nhưng tôi thấy khâm phục tinh thần của anh ta, là 1 người làm khoa học nhưng có 1 tư duy cởi mở về những quan niệm không tương thích với khoa học chính thống. Anh Long cho rằng anh Whitebear muốn gắn nhãn khoa học cho khí công? Tôi lại không thấy như vậy chút nào! Nếu tôi hiểu đúng, thì anh Whitebear trước sau luôn nói là đừng vội vàng gắn nhãn “phi khoa học” cho những vấn đề hiện giờ nằm ngoài phạm vi khoa học. Còn những paper anh ta đã dẫn ra, là dành cho bác nào muốn phán xét khí công bằng cái nhãn khoa học. Ai là người dán nhãn ở đây, tôi thiết nghĩ anh cũng rõ!

    Cho nên, tôi mạn phép đề nghị anh Hưng, anh Long hay bất cứ bác nào TIN khí công là placebo, là pseudoscience thì thay vì nhận xét kiểu trà dư tửu hậu như đã làm, vì việc tốt nhất là hãy làm bằng chính scientific method, mà cụ thể nhất là trước hết hãy nghiên cứu và viết 1 paper bác bỏ kết quả của nhóm Yan Xin.

    Trở lại điểm đầu tiên, anh cho “phương pháp khí công có tác động không có nghĩa là khí công tồn tại.” Ở đây, xét theo kiểu empirical hay formal đều sẽ dẫn đến những tranh luận kéo dài rất vô ích. Nên tôi mạn phép quay trở lại câu hỏi lần trước của tôi, rằng “bản chất của suy nghĩ con người, về mặt vật lí, là gì?” Nếu anh Long có câu trả lời, xin vui lòng giải thích giúp tôi vì hiện tôi chưa biết. Trong khi chờ đợi anh Long phản hồi, tôi đành phải bảo lưu quan điểm của mình, rằng do tôi chưa biết suy nghĩ có là 1 loại lực, hay trường, hay dây, hay hạt, hay sóng v.v. gì hay không nên dù nó có những tác động có thể tiếp nhận được, tôi đành phải kết luận là “suy nghĩ của con người dù gây ra tác động nhưng không có nghĩa là nó tồn tại”.

    Xin cảm ơn anh Long đã trao đổi nhiệt thành.

    • Lê Hoàng Long
      Posted 05/12/2010 at 3:43 am | Permalink

      Trước tiên, cho tôi xin lỗi bác Kan vì mãi đến bây giờ mới trả lời bác. Thời gian qua tôi có nhiều việc quá, phải cố cày kiếm tiền mua sữa cho con 🙂 . Tôi xin được trả lời một số điểm trong bài ở trên của bác. Ý quan trọng nhất là: tôi nghĩ cho đến bây giờ, tôi vẫn không có đủ bằng chứng để thuyết phục rằng khí công tồn tại, do đó tôi không thể khẳng định khí công có tồn tại hay không. Các bài báo “khoa học” về khí công, như tôi đã nhận xét trước đây, đều có những điểm có thể được đặt nghi vấn. Yêu cầu người khác phải chứng minh “khí công không tồn tại” là vô lý, vì nếu anh (“anh” nói chung, không phải bác Kan 🙂 ) tuyên bố có một con bò đang bay quanh sao Hỏa, hoặc có tồn tại sinh vật mà cấu trúc DNA hoàn toàn khác với những gì các nhà sinh vật học đã biết, thì anh phải chứng minh được điều đó, chứ không thể yêu cầu người khác “có ngon thì chứng minh nó không tồn tại đi!” Cũng đã có nhóm muốn mời Yan Xin hợp tác để kiểm tra khí công của Yan Xin, thì nhóm của Yan Xin từ chối (BC Skeptics). Chắc những nhóm này cũng không chỉ muốn nói chuyện “trà dư tửu hậu,” nhưng tiếc là vẫn chưa kiểm chứng khí công của Yan Xin được.

      Sự khác nhau về quan niệm của Đông và Tây là điều không phải bàn cãi. Nhưng tôi chưa hiểu nó có liên quan gì đến chuyện “khí công có được xem là khoa học” hay không. Tôi nghĩ bác muốn nói về chuyện định tính, định lương, nhưng như anh Đức có nói ở trên, một khi anh muốn khí công được coi là khoa học thì anh phải chấp nhận đặt nó dưới sự phán xét khoa học. Tôi tin là bác không “truy tặng” Đông y, cũng như tôi không phủ nhận Đông y. Có những bài thuốc, những phương pháp trị bệnh của Đông y có hiệu quả, nhưng cho đến khi những bài thuốc này được chứng minh một cách khoa học, chúng vẫn chỉ là những “kinh nghiệm dân gian.” Người xưa đặt ra rất nhiều thứ vì họ tin rằng những thứ đó là đúng, chứ mục đích không phải để lừa người khác. Khí công là một trong những thứ đó. Lừa người khác là khi biết mình không có khí công nhưng vẫn bày trò chữa bệnh bằng khí công. Còn mình không có khí công nhưng nghĩ rằng mình biết khí công thì lại là một vấn đề khác nữa.

      Khi tôi nói “phương pháp khí công có thể có tác động (gây hiệu ứng, tùy cách bác gọi),” tôi muốn nhấn mạnh từ “phương pháp.” Gia đình tôi làm ăn thua lỗ, thuê thầy cúng về dùng “phương pháp giải hạn” để xử lý. Vì tôi tin rằng vận hạn của mình đã hết, tôi mạnh dạn đầu tư, đến cuối năm đủ tiền mua sữa cho con. Như vậy tôi có thể kết luận là “giải hạn” tồn tại như một biện pháp khoa học không, hay đó chỉ là hiệu ứng ảo? Đến đây, nếu có người bảo rằng “bác ngon thì bác đi chứng minh giải hạn không tồn tại đi,” thì tôi xin thua 🙂 . Còn nói về điểm huyệt thì cùng một chỗ hiểm, tôi với bác cùng đánh mạnh hết sức mà đối phương vẫn không sao, còn võ sư biết cách, chỉ cần đánh nhẹ mình cũng té thẳng cẳng thì tôi thấy cũng bình thường. Ra lực đúng và chuẩn là cái mà con nhà võ phải rèn luyện hằng ngày. Tôi chỉ cho bác một đòn Nhu Đạo, rồi bảo bác vào vật anh Hưng, thì dù cho bác có biết yếu điểm của đòn thế tôi cũng đố bác làm gì được anh ấy. Nhưng tôi mà vào là anh Hưng đo sàn ngay tắp lự vì tôi còn biết dụng lực và thời điểm ra đòn, chứ chẳng phải tôi có tài thánh gì hơn bác.

      “Suy nghĩ” đã được giải thích bằng sinh, lý, hóa học, nên tôi chắc rằng bác cũng biết là nó có tồn tại. Bác chỉ nói nó không tồn tại để làm khó dễ tôi 🙂 .

      Sắp tới tôi cũng bận rộn, nếu chậm trả lời mong bác thông cảm. Có dịp nào được gặp bác, tôi xin thỉnh giáo bác về “tính duy vật trong Phật pháp.” 🙂

  14. Posted 22/11/2010 at 4:50 am | Permalink

    À tôi quên! Nói về vấn đề điểm huyệt, xin lưu ý với anh Long là cùng 1 vị trí huyệt đạo đã được chỉ rõ, cả anh và tôi đánh vào mạnh hết sức mình cũng không làm subject ngất xỉu được, nhưng 1 võ sư biết dùng khí công chỉ cần đánh nhẹ (nhấn mạnh: NHẸ! hiểu theo nghĩa vật lí) thì subject sẽ lăn ra ngất 1 cái chơi. Điều này thật dễ thấy là “phản vật lí”! 🙂

  15. Posted 22/11/2010 at 5:36 am | Permalink

    Các bác cho tôi sửa chính tả tẹo, đọc là “…nên khi đưa quantative methods vào các liệu pháp khí công…” chứ không phải “qualitative”. Khổ! Cái tội ưa nói dai thành ra nói dại! 🙂

    • Posted 22/11/2010 at 2:58 pm | Permalink

      Tiếp tục sửa: xin lỗi các bác, tôi lại sai, ko phải là quantative, mà là quantitative! Ôi! Thật là ngán ngẩm cái thằng tôi!

  16. Posted 22/11/2010 at 12:50 pm | Permalink

    Bác Kan, tôi thấy bác có hai đề nghị theo hai hướng khá là đối nghịch nhau:

    Cho nên, tôi mạn phép đề nghị anh Hưng, anh Long hay bất cứ bác nào TIN khí công là placebo, là pseudoscience thì thay vì nhận xét kiểu trà dư tửu hậu như đã làm, vì việc tốt nhất là hãy làm bằng chính scientific method, mà cụ thể nhất là trước hết hãy nghiên cứu và viết 1 paper bác bỏ kết quả của nhóm Yan Xin.
    Đề nghị làm theo scientific method tôi thấy là có tính hợp lý nhất định. Thế nhưng bác lại lấy ví dụ chưa thực sự scientific cho lắm vì đoạn này chỉ có tính giả định chứ chưa có chứng cứ đáng tin cậy:
    À tôi quên! Nói về vấn đề điểm huyệt, xin lưu ý với anh Long là cùng 1 vị trí huyệt đạo đã được chỉ rõ, cả anh và tôi đánh vào mạnh hết sức mình cũng không làm subject ngất xỉu được, nhưng 1 võ sư biết dùng khí công chỉ cần đánh nhẹ (nhấn mạnh: NHẸ! hiểu theo nghĩa vật lí) thì subject sẽ lăn ra ngất 1 cái chơi. Điều này thật dễ thấy là “phản vật lí”!
    Tôi thì có thể nói chắc rằng, với một vài chỗ hiểm/hay còn gọi là huyệt đạo thì một người chỉ cần biết chút võ thuật (không cần tới võ sư biết khí công) cũng có thể đánh cho subject chết bất đắc kỳ tử chứ không chỉ là ngất xỉu thôi đâu. Còn chuyện dùng khí công điểm huyệt gây ngất xỉu thì bác có thể đưa dẫn chứng được không?

    • Posted 22/11/2010 at 3:24 pm | Permalink

      Thưa bác SpringerCV,

      Mấy dòng sau tôi viết về võ sư & khí công, tôi cũng nghĩ có thể có bác sẽ bắt giò! Quả thật là, bác SpringerCV đã bắt giò, thật là không dễ gì qua được cửa peer review của các bác 🙂 , tôi xin bày tỏ lòng khâm phục bác SpringerCV. Xin được trả lời bác về ý đó.

      Thứ nhất là nói đùa 1 tẹo: vì thỉnh thoảng trong trang KHMT này lại có vài bài dạng trà dư tửu hậu nên tôi nghĩ mình là 1 người khách đến chơi cũng nên có phong cách trà dư tửu hậu, bằng cách đưa ra 1 chuyện nonsense để làm các bác nhức đầu tí chơi! 🙂

      Thứ hai là nói nghiêm túc: tôi đồng ý với bác, 1 vài huyệt nếu người ta biết, thì không cần biết 1 tí võ nào cũng đủ đánh cho subject ngất xỉu. Tuy vậy, vấn đề là phải dùng 1 sức, hay 1 lực, cỡ bao nhiêu, mạnh hay nhẹ. Bác đề nghị tôi đưa dẫn chứng về võ sư dùng khí công, thì tôi xin được nói thật tình thế này: các võ sư có nội công thâm hậu thì về “độ chảnh” cũng tương đương với các giáo sư KHMT hàng đầu thế giới. Giả như bác SpringerCV có advisor tầm cỡ thế giới, và bác bảo với ông ấy là cho 1 tay Kan vô danh nào đó gặp 1 ông lần cho biết vì nó không tin vào KHMT, thì không biết xác suất tay Kan đó gặp được giáo sư kia là bao nhiêu? 🙂 Cũng vậy, trong văn hóa Đông phương, người càng thâm hậu bao nhiêu, cho dù là về đạo học hay khí công, võ học, bói toán v.v. thì họ lại có xu hướng ẩn dật bấy nhiêu. Bác SpringerCV xin thông cảm cho vì, nếu tôi có biết 1 vị cao thủ khí công nào đó, tôi cũng không thể mở miệng ra nói rằng “Xin sư phụ hạ thủ dùng khí công điểm huyệt cho đệ từ Kan ngất xỉu 1 cái, để chứng minh cho người ta biết khí công là duy lí!”

      Vậy nên, nếu bác có duyên, bác sẽ có cơ hội chứng nghiệm. Còn nếu bác SpringerCV bảo tôi phát biểu vô căn cứ về chuyện võ sư và khí công, tôi cũng không phàn nàn hay biện luận gì.

  17. Posted 22/11/2010 at 4:26 pm | Permalink

    Chào bác Kan, tôi cũng biết trước về lí luận của bác vì đã đọc nó ở rất nhiều bài viết về tôn giáo và văn hóa phương Đông rồi. Thế nên hỏi bác vậy cho vui thôi :D, nhưng từ đó cũng dẫn ra được một số cái nhìn khác chung về những hiện tượng huyền bí và khoa học.

    – Khoa học thì chứng minh rõ ràng, kết quả có thể kiểm chứng và lặp lại nếu làm đúng phương pháp.
    – Những thứ “siêu nhiên, huyền bí” thì thường không có đủ bằng chứng thực nghiệm rằng nó đúng hay sai. Đơn giản là vì nó nằm ngoài nhận thức của loài người.

    Thế thì trong đời sống hàng ngày, chúng ta nên tuân theo và phổ biến cái nào nhiều hơn? Với lại chuyện ở đây không phải tin hay không tin mà tôi thấy ý của bác Hưng là cần phải biết sử dụng khoa học như một công cụ để kiểm chứng và phát triển nhận thức.

    Nói thật với bác là tôi cũng từng là một fan của văn hóa “Phương đông huyền bí”, cũng rất thích tìm hiểu về minh triết , Phật, Đạo, từng tập khí công với vài vị võ sư không tệ lắm nhưng khổ nỗi tôi chưa gặp được vị nào có khả năng như bác nói :D. Có lẽ tôi không may mắn như bác hoặc chưa đủ duyên cũng nên :D. Chỉ có điều là theo lập luận của bác thì những người thâm hậu về văn hóa phương Đông sẽ có xu hướng ẩn dật và chắc họ sẽ không tham gia mấy thí nghiệm phóng khi công lên điện cực cho các nhà khoa học ra paper đâu. Thế thì kết quả của những paper đó cũng là điều cần phải bàn nhiều, chưa thể tin ngay được mà cần kiểm chứng để lặp lại kết quả.

    Về vấn đề mà chúng ta đang nói thì Einstein có nhận xét thế này:

    Điều chắc là, giáo lý về một Thượng đế trong Thánh Kinh có thể can thiệp vào (interfering) những biến cố thiên nhiên không bao giờ có thể phủ bác được bởi khoa học, theo đúng nghĩa, bởi vì giáo lý đó bao giờ cũng có thể nấp đàng sau những lãnh vực mà khoa học chưa thể đặt chân vào. Nhưng tôi tin rằng cách xử sự của tôn giáo như vậy không những chẳng có giá trị gì mà còn nguy hại. Vì một giáo lý mà chỉ có thể duy trì trong bóng tối chứ không phải trong ánh sáng (For a doctrine which is able to maintain itself not in clear light but only in the dark), sau cùng sẽ mất đi ảnh hưởng đối với nhân loại, và gây phương hại không thể lường được cho sự tiến bộ của nhân loại.

    Trong một bài viết rất hay và có nhiều điều đáng suy ngẫm:

    http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Ton-Giao/Khoa_hoc_va_ton_giao_phu_thuoc_lan_nhau/

  18. Posted 06/12/2010 at 5:09 pm | Permalink

    Mới đọc bài này về các bác làm nghiên cứu châm cứu từ dữ liệu fMRI:

    http://healthland.time.com/2010/12/06/how-acupuncture-affects-pain-perception-in-the-brain/?hpt=T2

Post a Comment

Your email is never published nor shared. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>

*
*